Khái niệm thương nhân dưới góc độ pháp lý

Khái niệm về thuật ngữ thương nhân đã được xác định khá rõ ràng trong luật của Việt Nam, cụ thể trong Luật Thương mại năm 2005 điều 6, khoản thứ nhất thì thuật ngữ này trình bày là: Thương nhân gồm những tổ chức kinh tế hợp pháp, những cá nhân đang hoạt động khá thường xuyên, độc lập và có sự đăng ký hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực thương mại.

tn2-1669021613.jpg
Thương nhân gồm những tổ chức kinh tế hợp pháp, những cá nhân đang hoạt động khá thường xuyên, độc lập và có sự đăng ký hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực thương mại.

Bên cạnh đó, theo những phạm vi pháp lý đã được xác định cho những phạm trù hoặc chủ thể thì Luật Thương mại vốn chứa những điều luật dành riêng cho những thương gia, vì vậy để có thể tìm được câu trả lời đúng đắn cho câu hỏi thương nhân là gì cũng thuộc trong luật thương mại.

Những điều kiện để được công nhận là thương nhân

Có hai điều kiện chi tiết nhất để có thể trở thành một thương nhân đó là một cá nhân sẽ phải thực hiện những hành vi thương mại và điều thứ hai là cá nhân đó có hành vi thương mại mang những tính chất và đặc điểm nghề nghiệp thường xuyên.

Ngoài hai điều kiện tiên quyết trên thì người ta còn thừa nhận để bổ sung thêm vào luật Thương mại 2 điều kiện nữa đối với một người thương nhân đó là việc thực hiện những hành vi thương mại trên danh nghĩa cá nhân và thực hiện vì một lợi ích cho bản thân họ, mang một năng lực hành vi của hoạt động thương mại.

Mỗi một quốc gia sẽ xác định định nghĩa thương nhân khác nhau, bên cạnh đó còn kèm theo những điều kiện công nhận thương nhân cũng vô cùng khác biệt. Tại Pháp, thương nhân được định nghĩa là một người có năng lực và thực hiện nên những hành vi thương mại độc lập trên danh nghĩa là chính bản thân họ, thực hiện vì lợi ích của bản thân họ. Những hoạt động này được xem là những nghề nghiệp thường xuyên.

Có cùng quan điểm với Pháp, ở Đức thuật ngữ này được quy định đồng nhất với khái niệm của thương gia và có những nội dung phức tạp hơn thế rất nhiều. Chi tiết hơn thì xã hội Đức quy định rằng những người thương gia được chia ra làm nhiều loại gồm có thương gia đã được công nhận qua những thủ tục đăng ký tự nguyện, thương gia vốn dĩ được công nhận đương nhiên, những thương gia nhỏ, thương gia được công nhận dưới những quy định của pháp luật, thậm chí còn có cả nhóm thương nhân giả nữa.

tn1-1669021613.jpg
Để có thể trở thành một thương nhân đó là một cá nhân sẽ phải thực hiện những hành vi thương mại.

Tại Việt Nam, thương nhân theo luật pháp chỉ đơn giản là những người thực hiện nên những hành vi thương mại và sử dụng chính nó để biến thành một nghề nghiệp của bản thân họ. Họ là những tổ chức, những cá nhân, hộ gia đình có những hành vi như đăng ký kinh doanh, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại độc lập và thường xuyên chính là những điều kiện cơ bản nhất của một tổ chức hoặc một cá nhân được công nhận là thương nhân ở Việt Nam.

Xác định những thuộc tính thương nhân cơ bản nhất

Dưới đây là những nội dung xác định những thuộc tính vốn có của một thương nhân, nếu như không có những điều này thì không thể công nhận một cá nhân hoặc một tổ chức là thương nhân được.

Thứ nhất thì một thương nhân nên đảm bảo được những hoạt động thương mại trong những điều kiện độc lập hoàn toàn. Tiếp theo là thương nhân cũng nên tiến hành những hành vi đó liên tục, thường xuyên và coi đó là một nghề nghiệp. Thứ ba thì thương nhân có thể hoạt động thương mại độc lập nhưng không được phép tự do vì phải đăng ký kinh doanh, nếu như không đăng ký kinh doanh thì không được cấp những giấy phép hoạt động và cũng sẽ không được coi là một thương nhân.

Những nội dung này đều được tổng hợp chi tiết nhất trong hai Bộ luật Thương mại được ban hành vào hai thời điểm năm 1997 và năm 2005, theo đó thì định nghĩa cho những thuật ngữ này đã được xác định với hai tiêu chí cụ thể nhất đó chính là khách thể và chủ thể.

Tùy theo từng cách mỗi người quan niệm và nhìn nhận về những hoạt động thương mại theo những chiều hướng nội dung thì giá trị ý nghĩa ra sao để có thể xác định được những mức độ hẹp và rộng của ngoại diên trong thuật ngữ thương nhân.

Nếu chúng ta căn cứ vào Luật đã được ban hành vào năm 1997 thì khái niệm thương nhân đã bị giới hạn vô cùng nhiều, khi đó khái niệm này chỉ bao gồm những tổ chức, cá nhân đã thực hiện những hành vi thương mại đã được xác định sẵn gồm 14 hành vi trong nội dung điều thứ 45.

tn-1669021613.jpg
Để trở thành một thương nhân là cá nhân đó có hành vi thương mại mang những tính chất và đặc điểm nghề nghiệp thường xuyên.

Nếu như ta căn cứ vào Luật Thương mại ban vào năm 2005 hoặc những nội dung văn bản Pháp Lệnh Trọng tài Thương mại được ban hành năm 2003 thì thuật ngữ thương nhân đã được mở rộng hơn về ngoại diên vì vậy số lượng cũng tăng lên hơn nhiều.

Những đặc điểm pháp lý của thương nhân

Đây được xem là một thuật ngữ nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ cũng như những chuyên gia kinh tế và thương nhân đã được xác định rõ nhất theo mỗi một khía cạnh tồn tại và có những đặc điểm pháp lý chi tiết và rõ ràng nhất.

Và những điều này gắn liền với tính pháp lý cho nên buộc những người thương nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt nhất những quy định pháp lý chung nhất. Vậy thì những đặc điểm này là gì và tại sao không nên bỏ qua nếu như bạn đã và đang muốn trở thành một thương nhân?

Có những hành vi thương mại

Đặc điểm cần thiết đầu tiên của những thương nhân là họ bắt buộc có hành vi thương mại chi tiết nhất. Khái niệm và những hành vi thương mại đều có mối liên hệ mật thiết và sự phụ thuộc lẫn nhau.

Theo Luật Thương mại đã được ban hành năm 1997 đã thể hiện rõ điều này và khẳng định rằng những hành vi thương mại đã được xác định chính là những hành vi được thực hiện bởi những người thương nhân khi họ có những hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Một nội dung khác trong bộ Luật này cũng cho rằng thương nhân buộc phải đăng ký để có thể đủ những điều kiện trong hoạt động thương mại.

Những yêu cầu cơ bản nhất cũng là những điều kiện thiết yếu được hầu hết những quốc gia lấy làm căn cứ từ đó có thể xác định được chính xác nhất những khái niệm về thuật ngữ thương nhân là gì?

tn4-1669021613.jpg
Mỗi một quốc gia sẽ xác định định nghĩa thương nhân khác nhau, bên cạnh đó còn kèm theo những điều kiện công nhận thương nhân cũng vô cùng khác biệt.

Những hành vi thương mại của thương nhân dựa trên sự độc lập và lợi ích cá nhân

Thương nhân mang danh nghĩa cá nhân, hoạt động độc lập vì những lợi ích của cá nhân để có thể thực hiện được những hành vi thương mại. Nội dung này xác định rõ nhất trong những nội dung trong Luật Thương mại ở nhiều nước.

Với những đặc điểm pháp lý thứ hai thì người ta dễ dàng phấn đấu để có thể trở thành một thương nhân hoặc được xác định là một thương nhân. Việc có thể xác định được rõ nhất một tổ chức, cá nhân có phải là thương nhân hay không khá quan trọng vì trong lĩnh vực thương mại có rất nhiều những đối tượng cùng được tham gia vào, chúng ta có thể rất dễ nhầm lẫn tất cả trong số họ đều là thương nhân.

Những đặc điểm pháp lý khác

Ngoài những đặc điểm trên thì thương nhân còn được xác định những đặc điểm pháp lý gồm:

Những thông tin trong bài trên đã cung cấp đủ cho bạn những thông tin về thương nhân, liên quan tới những thuật ngữ này rất nhiều vấn đề cần phải nắm bắt, tìm hiểu sâu hơn chứ không đơn giản nên hiểu thương nhân là gì nhé.

Thương nhân chính là một thuật ngữ hay bị đánh đồng với những thuật ngữ khác như thương gia và doanh nghiệp. Mặc dù vậy, với những cơ sở pháp lý và những khái niệm này lại hoàn toàn tách biệt nhau dù nội hàm và ngoại diên của chúng có đôi nét tương đồng với nhau. Để tránh nhầm lẫn, hãy cùng chúng tôi theo dõi bài viết dưới đây để hiểu rõ thương nhân là gì và điều kiện trở thành thương nhân nhé.
TIN LIÊN QUAN
Liên hệ bộ phận kinh doanh
  • Liên hệ bộ phận kinh doanh
  • 0939.964.689